NỘI DUNG

Khái niệm chung về anthranoid

Cấu trúc hoá học, phân loại

Tính chất, định tính, định lượng

Chiết xuất

Tác dụng, công dụng

Tài liệu tham khảo

 

 

Dược liệu chứa anthranoid thuộc chi cassia.

Phan tả diệp

Thảo quyết minh

Cốt khí muồng

Muồng trâu

 

Dược liệu chứa anthraglycosid thuộc họ rau răm: 

Cốt khí củ

Đại hoàng

Hà thủ ô đỏ

 

Dược liệu chứa anthranoid khác:

Ba kích

Lô hội

Dâm dương hoắc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ANTHRANOID

Những hợp chất anthranoid nằm trong nhóm lớn hydroxyquinon. Những hợp chất quinon được tìm thấy chủ yếu trong ngành nấm, địa y, thực vật bậc cao và cả trong động vật. Căn cứ vào số vòng thơm đính thêm vào nhân quinon mà người ta sắp xếp thành benzoquinon, naphthoquinon, anthraquinon và naphthacenequinon hay còn gọi là anthracyclinon (4 vòng). 

Anthranoid hay anthraquinon khi tồn tại dưới dạng glycosid thì được gọi là anthraglycosid hay anthracenosid. Cũng như các loại glycosid khác Anthraglycosid là những glycosid khi bị thuỷ phân sẽ cho phần đường và phần aglycon (genin) là dẫn chất 9,10 anthraquinon*, (9,10-anthracendion*) (9,10 dixeton của anthraxen).

Đa số các anthraglycosid là các polyoxy anthraquinon. Gắn vào nhân thường có các nhóm chức -OH, -OCH3, -CH3, -COOH... Tuỳ theo vị trí các nhóm chức đính vào nhân mà có các dẫn chất khác nhau:

Vì trong tự nhiên hầu như chưa gặp các dẫn chất 1,2 hoặc 1,4-anthracendion  nên khi nói đến các dẫn chất anthraquinon trong tự nhiên thì người ta hiểu rằng đó là những dẫn chất 9,10-anthracendion. Sự tạo thành các dẫn chất anthraquinon xuất phát từ 2 con đường:

1. Ðối vơi những dẫn chất 1,8-dihydroxyanthraquinon hay gặp trong các họ thực vật  Polygonaceae, Caesalpiniaceae, Rhamnaceae cũng như trong một số nấm và địa y, con đường sinh nguyên xuất phát từ các đơn vị acetat. Người ta đưa acetat có đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ vào môi trường nuôi cấy nấm Penicillium islandicum là nấm tạo ra dẫn chất anthranoid thì thấy các đơn vị acetat được ngưng tụ nối với nhau theo đầu đuôi. Chất poly-b-cetomethylen acid được tạo thành đầu tiên rồi tiếp theo các dẫn chất anthranoid. (SĐ1)

2. Con đường thứ hai tạo thành các dẫn chất anthraquinon trong một số họ thực vật khác chủ yếu là họ Rubiaceae thì chất tiền sinh là acid shikimic. Sau khi acid này ngưng tụ với một acid a-cetoglutaric thì tạo thành một dẫn chất naphtalen rồi chất này lại gắn thêm một gốc isoprenyl để rồi đóng vòng tạo ra các dẫn chất anthraquinon. (SĐ2)  

Anthraquinon đơn giản nhất không có nhóm thế th́ không có trong tự nhiên nhưng có được bằng cách oxy hoá anthracen hoặc bằng tổng hợp từ anhydrid phtalic:(SĐ3)

Back to Top

Cấu trúc hoá học, phân loại

Dẫn chất Antraquinon có thể chia thành ba nhóm. (Nhóm phẩm nhuộm, Nhóm nhuận tẩy, Nhóm dimer)

Nhóm phẩm nhuộm (Các dẫn chất 1,2 dihydroxy anthraquinon

Những dẫn chất thuộc nhóm này có màu từ đỏ cam đến đỏ tía. trong cấu trúc có 2 nhóm OH kế cận ở vị trí a và b và hay gặp trong một số chi thuộc họ Cà phê - Rubiaceae (chi Rubia, Coprosma...) Đại diện nhóm này có: alizarin (1,2 dihydroxy anthraquinon); acid ruberythric (=2-primeverosid của alizarin), purpurin (= 1,2,4-trihydroxyanthraquinon).

Boletol là chất có màu đỏ sáng có trong một số loài nấm thuộc chi Boletus. Acid carminic (7- C- glucopyranosyl - 3,5,6,8-tetrahydroxy-1-methylanthraquinon-2-carboxylic acid) ở dạng muối nhôm được gọi là carmin có màu đỏ là thuốc nhuộm dùng làm tá dược màu trong bào chế, thực phẩm, mỹ phẩm, nhuộm vi phẫu thực vật. Acid carminic được chiết từ loài sâu Dactylopius coccus Costa (Coccus cacti L.). Loại sâu này sống trên nhiều loài xương rồng thuộc chi Opuntia họ Xương rồng - Cactaceae ở Trung Mỹ, chủ yếu ở Mexico. Người ta lấy trứng của những con sâu cái trước khi trứng chưa phát triển hoàn toàn, đem sấy khô- nguyên liệu chứa 10% chất màu. Acid carminic là một C-glycosid.(CT)  

Acid kermesic là chất màu lấy từ loài sâu Kermococcus ilicus (CT). Ở nước ta có cánh kiến đỏ là sản phẩm do loài sâu Laccifer lacca Kerr  tạo ra trên cành một số cây chủ như cây đậu chiều Cajanus indicus, cây đề (Ficus religiosa L.)...thành phần chính của cánh kiến đỏ là nhựa dùng để chế shellac dùng để đánh bóng vecni đồ gỗ, mây tre; sản phẩm phụ là chất màu đỏ sẫm gọi là acid laccaic . Đây là một hỗn hợp nhiều chất, trong đó Acid laccaic A,B,C có màu đỏ. Acid laccaic D v́ không có 2 nhóm OH ở nên có màu vàng.(CT) Nhóm này c̣n gặp trong một số chi thuộc họ: Rubiaceae (Rubia tinctoria)....

Nhóm nhuận tẩy (các dẫn chất 1,8 dihydroxy anthraquinon).

Dẫn chất 1,8 dihydroxy anthraquinon (oxymethylanthraquinon) thường có nhóm CH3, CH2OH, CHO hoặc COOH ở vị trí 3. Dẫn chất 1,8 dihydroxyantraquinon có thể ở dạng tự do hoặc kết hợp với phần đường ở dạng glycosid. Một số chất thường gặp thuộc nhóm này:  Cryzophanol (Acid Cryzophanic), Aloe emodin, Rein,  Reum emodin (Emodin),   (Phyxion)

Tuỳ thuộc mức độ oxyhoá của các dẫn chất anthraxen người ta chia thành: anthraquinon (dạng oxy hoá), anthron và anthranol (dạng khử). Nếu khử một trong hai nhóm chức ceton của anthraquinon sẽ cho dẫn chất anthron hoặc đồng phân hỗ biến của chất này là anthranol (dạng enol). Nếu khử tiếp th́ dẫn đến dẫn chất dihydroanthranol. Dạng khử có tác dụng xổ mạnh nhưng hay gây đau bụng v́ vậy một số dược liệu chứa anthranoid phải để 1 năm sau khi thu hái mới dùng để dạng khử chuyển thành dạng oxyhoá.  

Phần đường trong antraglycosid thường ở vị trí 1,6,8 có khi ở vị trí 3 . 

Nhóm dimer 

Một số dẫn chất anthranoid dimer do 2 phân tử ở dạng anthron bị oxy hoá rồi trùng hợp với nhau tạo thành dianthron hoặc tiếp đến các dẫn chất dehydrodianthron ví dụ sự tạo thành hypericin là chất có trong cây Hypericum perforatum, có tác dụng kháng khuẩn dùng chữa viêm dạ dày, ruột, răng, miệng.

Một số ví dụ khác là các chất: ararobinol (có trong cốt khí muồng và trong các loài Rumex spp.), sennosid A,B,C (có trong Phan tả diệp) hoặc rheidin A,B,C (có trong Đại hoàng).

Khi tạo thành dimer nếu 2 nửa phân tử giống nhau th́ gọi là homodianthron ví dụ ararobinol, sennosid A,B; nếu 2 nửa phân tử không giống nhau th́ gọi là heterodianthron ví dụ sennosid C, rheidin A.(CT)

Trong chi Cassia người ta c̣n gặp một số dimer dạng dianthraquinon như cassianin, cassiamin.

Loại dianthraquinon c̣n gặp trong một số loài nấm Penicillium.

Trong thực vật ngoài những dẫn chất anthranoid xếp vào 3 nhóm trên c̣n có những dẫn chất khác có một số nhóm thế đặc biệt, ví dụ chất fragilin có trong địa y Sphaerophorus globosus hoặc nalgiolaxin có trong nấm Penicillium có gốc Cl.

Các dẫn chất anthranoid được phân bố trong khoảng 30 họ thực vật khác nhau, chủ yếu là những cây 2 lá mầm. Các họ hay gặp: Caesalpiniaceae, Rhamnaceae, Rubiaceae, Polygonaceae.

Trong cây một lá mầm rất hiếm. Cho đến nay có 2 cây được biết: Lô hội - Aloe spp. và Hemerocallis aurantiaca. Trong nấm, địa y cũng có. Trong động vật th́ gặp trong các loài sâu như Coccus cacti, Kermococcus ilicus, Lacifer lacca. Dưới đây là bảng ghi một số dẫn chất anthranoid cùng với nguồn thực vật:

Back to Top

Tính chất, định tính, định lượng

Tính chất, định tính: (Chủ yếu nhóm nhuận tẩy).

- Những dẫn chất anthraquinon đều có màu từ vàng, vàng cam đến đỏ.

- Dễ thăng hoa nên có thể lợi dụng tính chất này để định tính bằng cách làm vi thăng hoa anthraquinon trên lam kính rồi soi tinh thể qua kính hiển vi, sẽ thấy h́nh kim màu vàng.

- Ở thể glycosid dễ tan trong nước, c̣n thể tự do (aglycon) th́ tan trong ether, chloroform và một số dung môi hữu cơ khác. 

- OH ở vị trí α th́ có tinh acid yếu hơn ở vị trí β do tạo dây nối hydro với nhóm carbonyl nên các dẫn chất chỉ có OH a th́ chỉ tan được trong dung dịch NaOH. Các dẫn chất có OH β nhưng không có nhóm COOH trong phân tử th́ tan được trong dung dịch NaOH và carbonat. Các dẫn chất có nhóm COOH th́ tan trong dung dịch NaOH, carbonat, và cả hydrocarbonat.

- Dẫn chất oxyanthraquinon mà có ít nhất một nhóm OH α th́ cho màu với Mg acetat trong cồn, ngoài ra màu đậm nhạt c̣n phụ thuộc vào các nhóm OH khác, nếu là dẫn chất 1,2-dihydroxy th́ cho màu tím, 1,4-dihydroxy th́ cho màu tía, c̣n 1,6 và 1,8 màu đỏ cam.

- Dẫn chất có 1,4-dihydroxy sẽ có huỳnh quang trong dung dịch acid acetic. Ngoài ra các dẫn chất này c̣n cho màu xanh dương rơ với H2SO4.

- Các dẫn chất thuộc nhóm nhuận tẩy khi ở trong dung dịch kiềm tạo phenolat có màu đỏ và dưới ánh sáng U.V (365 nm) cho huỳnh quang tím hoặc đỏ nâu. Dựa vào tính chất này để định tính (phản ứng Bortrager): lấy môt ít bột dược liệu cho vào ống nghiệm, thêm dung dịch H2SO4 25%, đun nhẹ để thủy phân glycosid (nếu có) ra dạng aglycon. Đối với một số dẫn chất anthranol ví dụ barbaloin th́ phải cho thêm một ít dung dịch H2O2 hoặc FeCl3 để chuyển sang dạng oxy hoá. Để nguội, lắc với một dung môi hữu cơ ví dụ ether, gạn lớp ether ra một ống nghiệm khác rồi thêm một ít dung dịch NaOH 10%. Lớp kiềm sẽ có màu đỏ.

- Muốn phát hiện sự có mặt của acid chrysophanic trong hỗn hợp oxymethylanthraquinon có thể tiến hành như sau: sau khi thủy phân, hỗn hợp oxymethylanthraquinon được chiết bằng benzen, tách lớp benzen ra ống nghiệm, thêm dung dịch ammoniac và lắc đều, nếu lớp benzen c̣n màu vàng th́ tách lớp benzen ra rồi cho tác dụng với dung dịch NaOH, lớp NaOH có màu hồng c̣n lớp benzen mất màu th́ sơ bộ kết luận trong hỗn hợp có mặt acid chrysophanic.

- Các dẫn chất anthranol có phản ứng với p-nitroso dimethylanilin để tạo thành azomethin có màu. Trong trường hợp các C-glycosid anthron th́ có thể phát hiện bằng sự xuất hiện huỳnh quang khi có mặt natri borat (phản ứng Schouteten).

SẮC KƯ

Để sắc kư để phát hiện toàn bộ các dẫn chất ở dạng tự do và dạng glycosid người ta đun bột dược liệu với MeOH, để nguội, lọc. Chấm dịch lọc trên bản sắc kư.

Để tách các glycosid, dùng silicagel G với các hệ dung môi sau:

          Ethylacetat - methanol - nước (100:17:13).

          Ethylacetat - n-propanol - nước (4:4:3).

          Chloroform - methanol               (4:1).

Nếu chỉ muốn phát hiện các aglycon ở dạng oxy hoá, th́ chiết như sau: 0,2g bột dược liệu cho vào ống nghiệm, cho thêm 5 ml H2SO4 25% và 1 ml dung dịch H2O2. Đun sôi trong vài phút, để nguội, lắc với 4 ml chloroform, chấm dịch chloroform lên bản sắc kư tráng bằng siilicagel với NaOH 0,01 N, bản dày 0,25 mm, thực hiện trên 3 hệ dung môi tăng dần lượng acid như sau: (I) benzen - EtOH - AcOH (75:24:1); (II) hệ dung môi như trên (75:20:5); (III) hệ dung môi như trên (7:2:1). Dưới đây là Rf x 100 của một số dẫn chất anthraquinon (theo J.W.Fairbairn):

Thuốc thử phát hiiện: a) dung dịch KOH trong cồn, quan sát ở ánh sáng thường và ánh sáng U.V. ở bước sóng dài. b) dung dịch Mg acetat trong cồn. c) Pyridin - methanol (1:1), thuốc thử này dùng để phân biệt các dẫn chất anthraquinon với các dẫn chất anthron, dianthron. Trên sắc đồ các dẫn chất anthraquinon cho màu vàng c̣n các dẫn chất anthron và dianthron cho màu tím. (Sắc kư đồ dịch chiết một số dược liệu chứa anthranoid). (Sắc kư đồ một số dịch chiết dược liệu chứa anthranoid)

 

QUANG PHỔ:

Phổ tử ngoại của các dẫn chất oxymethylanthraquinon thường có nhiều đỉnh: 4 đỉnh trong vùng 200-300 nm và một đỉnh ở vùng khả kiến trong khoảng 430-440 nm. Sau đây là phổ U.V. của một số chất:

Emodin                  223 nm (log e 4,56) 254 (4,25) 267 (4,24) 290 (4,36)                            440 (4,09).

Chrysophanol         225 nm (4,57)        258 (4,33) 279 (4,01) 288 (4,07)

                             432 (4,08).

Physcion       226 nm (4,45)        255 (4,22) 267 (4,25) 288 (4,22)

                             440 (4,02).

Aloe emodin           225 nm (4,59)        258 ( 4,36) 279 (4,03) 287 (4,03)

                             430 (4,03).

Rhein 230 nm ( 4,57)       260 (4,34) 432 (4,07).

Phổ IR có những pic: 1630 cm-1 (C=O có dây nối hydro với -OH), 1670 (C=O tự do), 1570 (C=C thơm), 2890 (-CH=), 3400 (OH)

Định lượng ( nhóm nhuận tẩy)

1 - Phương pháp cân: phương pháp của Daels và Kroeber.

Nguyên tắc của phương pháp này như sau: Dược liệu được đun với acid sulfuric 25% để thủy phân các glycosid, các aglycon được chiết ra bằng chloroform. Dung dịch chloroform đem rửa với dung dịch natri bisulfit rồi tiếp theo với dung dịch HCl loăng. Sau đó bốc hơi dung môi, cắn được đem sấy và cân. Dược điển Liên Xô IX ứng dụng phương pháp này để định lượng các oxymethylanthraquinon trong vỏ cây Rhamnus frangula L. và trong đại hoàng.

Cách tiến hành: cân chính xác 2 g bột dược liệu, đun cách thủy trong b́nh có ống sinh hàn hồi lưu trong 2 giờ rưỡi với 200 ml CHCl3 và 50 ml H2SO4 25%. Sau đó lắc các dịch chiết CHCl3 với 50 ml dung dịch natri bisulfit 10% trong 5 phút. Sau khi để yên tách lớp CHCl3, lọc và lắc với dung dịch acid hydrochloric 1% trong 5 phút. Sau khi 2 lớp phân cách rơ ràng, người ta tách lớp dưới, lọc và bốc hơi CHCl3, sấy, lúc đầu 600 rồi sau đó 800C đến khi khối lượng không đổi.

2- Phương pháp so màu:

Phương pháp này dựa trên phản ứng màu Bưrntraeger. Tschirch là người đầu tiên đưa ra phương pháp để định lượng anthranoid trong đại hoàng. Theo tác giả, bột đại hoàng được đun sôi với dung dịch H2SO4 loăng, sau đó chiết bằng ether. Từ dịch ether lại chiết bằng kiềm rồi đo màu. Nhiều tác giả khác có thay đổi một số điều kiện về dung môi hữu cơ, acid, thời gian thủy phân, loại dung dịch kiềm để làm phản ứng màu. Sau đây chỉ tŕnh bày phương pháp của Auterhoff là phương pháp được nhiều người chấp nhận. Nguyên tắc của phương pháp là đun dược liệu với acid acetic để thủy phân các glycosid, sau đó thêm ether để chiết aglycon. Từ dịch acid acetic - ether (chú ư acid acetic hoà tan trong ether) các aglycon được lắc nhanh với dung dịch xút cộng với ammoniac. Dung dịch kiềm có màu đỏ, được đem đo mật độ quang. Đường cong chuẩn được xây dựng với chất mẫu istizin (= 1,8-dihydroxyanthraquinon) hoặc acid chrysophanic được pha cũng trong dung dịch xút + ammoniac hoặc dựa vào dung dịch cobalt chlorid; dung dịch này có màu hồng như màu của phản ứng. Mật độ quang của 0,36mg istizin trong 100ml dung dịch xút + ammoniac (5g NaOH trong 50ml nước thêm 2ml ammoniac đậm đặc và thêm đủ 100ml với nước cất) bằng mật độ quang của dung dịch cobalt chlorid 1%.

Phương pháp này hạn chế tới mức thấp nhất sự oxy hoá các chất ở dạng khử anthron. Các chất này có màu vàng trong môi trường kiềm nên không cản trở sự định lượng. Nếu muốn định lượng anthranoid toàn phần cần oxy hoá các dẫn chất anthron bằng cách đặt các dung dịch đă phản ứng với kiềm lên nồi cách thủy trong 20 phút. Ở môi trường kiềm cộng với nhiệt độ và không khí, các dẫn chất anthron sẽ bị oxyhoá thành anthraquinon. Hiệu giữa 2 lần đo trước và sau khi oxy hoá cho phép ta tính được hàm lượng của các dẫn chất anthron.

Nếu muốn định lượng các aglycon ở dạng tự do trong dược liệu th́ không qua giai đoạn thủy phân mà chỉ cần chiết các aglycon tự do bằng ether rồi thêm dung dịch kiềm để làm phản ứng màu.

Phương pháp Auterhoff đă được đưa vào Dược điển Việt Nam để định lượng những dẫn chất anthranoid trong dược liệu.

3 - Phương pháp thể tích của Tschirch và Schmitz:

Nguyên tắc của phương pháp là dùng dung dịch KOH 0,1 N để tác dụng lên các dẫn chất anthraquinon rồi chuẩn độ kiềm thừa bằng HCl 0,1 N; sự chuyển màu từ đỏ sang vàng của phản ứng thay cho chỉ thị màu. Phương pháp này ít được dùng v́ thiếu chính xác.

Ngoài các phương pháp trên, có thể kết hợp sắc kư với đo quang để định lượng từng thành phần riêng. Ngoài ra có thể đánh giá bằng phương pháp sinh vật trên chuột thí nghiệm. Đối với Lô hội không dùng phương pháp này v́ chuột kém nhạy cảm, liều xổ của sennosid là 1 mg/kg thể trọng chuột c̣n barbaloin là 300 mg/kg.

Back to Top

Chiết xuất  

Muốn chiết xuất glycosid, dùng cồn ethylic hoặc cồn methylic hoặc hỗn hợp cồn - nước. Muốn chiết phần aglycon, thủy phân bằng acid sau đó chiết bằng ether hoặc chloroform.

Để tách các dẫn chất anthraquinon có thể sử dụng độ hoà tan khác nhau trong môi trường kiềm khác nhau như đă nói ở phần trên nhưng sự phân chia không được tách bạch mà thường c̣n lẫn chất này với một ít chất khác. Trong nghiên cứu người ta hay dùng sắc kư cột với silicagel, kieselghur, bột cellulose. Có thể dùng calcicarbonat, Mg carbonat, dicalci phosphat, calcisulfat, Mg oxyt, calci oxyd. Để triển khai, nếu để tách các glycosid th́ dùng ethanol hoặc methanol với các độ cồn khác nhau, c̣n tách aglycon, dùng các dung môi hữu cơ theo đô phân cực tăng dần ví dụ CHCl3, tăng dần lượng cồn từ (1-5%), theo dơi các phân đoạn bằng đèn tử ngoại.

Back to Top

Tác dụng sinh lư và công dụng

Các dẫn chất anthraglycosid, chủ yếu là các β-glucosid dễ hoà tan trong nước, không bị hấp thu cũng như bị thủy phân ở ruột non. Khi đến ruột già, dưới tác dụng của β-glucosidase của hệ vi khuẩn ở ruột th́ các glycosid bị thủy phân và các dẫn chất anthraquinon bị khử tạo thành dạng anthron và anthranol là dạng có tác dụng tẩy xổ, do đó có thể giải thích lư do tác dụng đến chậm sau khi uống thuốc. Dạng genin th́ bị hấp thu ở ruột non nên không có tác dụng.

Do tác dụng làm tăng nhu động ruột nên với liều nhỏ các dẫn chất 1,8-dihydroxyanthraquinon dưới dạng heterosid giúp cho sự tiêu hoá được dễ dàng, liều vừa nhuận, liều cao xổ. Thuốc tác dụng chậm, 10 giờ sau khi uống mới có hiệu lực. V́ c̣n có tác dụng lên cơ nhẵn của bàng quang và tử cung nên dùng phải thận trọng đối với người có thai, viêm bàng quang và tử cung. Bài tiết qua sữa nên cần chú ư đối với các bà mẹ có con bú, bài tiết qua nước tiểu nên nước tiểu có thể có màu hồng.

Các dẫn chất anthraglycosid c̣n có tác dụng thông mật.

Hỗn hợp các dẫn chất anthraquinon có trong rễ cây Rubra tinctoria L. có tác dụng thông tiểu và có khả năng tống sỏi thận. Ở Sapa, Nghĩa Lộ, vùng Lai Châu có cây Thiên thảo Rubia cordifolia cũng có những dẫn chất anthraquinon tương tự như cây trên.

Chrysophanol có tác dụng kháng nấm dùng để trị nấm, hắc lào, lang ben.

Một số nghiên cứu cho thấy các dẫn chất quinon đặc biệt là các dẫn chất anthraquinon có tác dụng kích thích miễn dịch chống ung thư. Xuất phát từ acid chrysophanic và các dẫn chất anthraquinon khác, người ta bán tổng hợp một số dẫn chất có N-, S- và gốc halogen có hoạt tính chống ung thư.

Back to Top

15. Ðịnh nghĩa, cấu trúc hoá học của anthranoid

16. Các phương pháp định tính, định lượng anthranoid trong dược liệu.

17. Nguyên tắc chiết xuất anthranoid từ dược liệu.

18. Tác dụng sinh học và công dụng của anthranoid

19. anthranoid: Phan tả diệp; Thảo quyết minh; Muồng trâu; Ðại hoàng, Cốt khí củ, Hà thủ ô đỏ; Ba kích, Lô hội.

 

Tài liệu tham khảo

- Bài giảng dược liệu tập I Tr. 215-230

Back to Top

-------------------------------------------------------

Mọi thông tin liên quan đến trang web Xin vui ḷng liên hệ theo số điện thoại 01234195602 hoặc theo địa chỉ Email: thannv@hup.edu.vn

Revised: February 21, 2017 .